Ngôn ngữ Viet Nam English
Sản phẩm mới
Nhận bản tin
Vui lòng nhập email để nhận bản tin
Tin tức -> Tin Tức Thị trường chăn nuôi
Quảng Nam: Khí sinh học (biogas) - đồng lực cho chăn nuôi phát triển bền vững

Điểm mạnh của chăn nuôi Quảng Nam là có đất đai dành cho sản xuất - chăn thả, thị trường tiêu thụ rộng và người dân nông thôn có nhiều kinh nghiệm trong phát triển chăn nuôi.

      Cho nên trong những năm qua, thực hiện Nghị quyết của Tỉnh Đảng bộ lần thứ XIX về chuyển đổi cơ cấu cây trồng và con vật nuôi, tỉnh đã đưa ra nhiều chủ trương chính sách hỗ trợ, đầu tư nhằm đẩy mạnh phát triển chăn nuôi, coi đây là mũi nhọn, là khâu đột phá nhằm đưa chăn nuôi trở thành ngành sản xuất chính theo hướng sản xuất hàng hóa và bền vững. Vì vậy mà số lượng, chất lượng cũng như hiệu quả kinh tế của đàn vật nuôi đã có những cải thiện đáng kể. Nhưng đồng hành cùng với sự phát triển đó cũng đã đặt ra cho Ngành những thách thức rất lớn đòi hỏi các nhà quản lý, chuyên môn phải đưa ra những giải pháp, mục tiêu phù hợp và xây dựng các chương trình hành động cụ thể thì mới thật sự giúp cho chăn
nuôi phát triển bền vững được.
 
      Một trong những thách thức lớn nhất là nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, mất văn hoá mỹ quan, đặc biệt là ở trong những khu vực đông dân cư. Trong thực tế, các bể biogas đã có mặt tại Việt Nam từ năm 1960 và nhất là sau 1975 đã được nhiều cơ quan nghiên cứu, triển khai. Tuy nhiên phải đến năm 2002 với sự hỗ trợ kinh phí từ phía Chính phủ Hà Lan việc triển khai mới được thực hiện với tốc độ nhanh chóng, từ năm 2003 đến cuối năm 2007 đã xây dựng và đưa vào sử dụng được 27.000 bể tại 24 tỉnh, thành phố. Riêng đối với Quảng Nam, (theo số liệu năm 2009) tổng đàn lợn có 578.480 con, đàn bò có 210.287 con, đàn trâu có 79.538 con và gia cầm, thủy cầm có 3.531.008 con. Chính vì vậy, việc ứng dụng và phát triển “Chương trình Khí sinh học trong chăn nuôi” là rất cần thiết, có một ý nghĩa kinh tế - xã hội và môi trường rất lớn; không những giúp cho nông dân xử lý được nguồn chất thải trong chăn nuôi, nông nghiệp và hộ gia đình (rơm, rạ, cây phân xanh...) để tạo ra nguồn năng lượng sạch và rẻ tiền phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hằng ngày; góp phần bảo vệ sức khỏe, giảm sức lao động cho phụ nữ và trẻ em; đồng thời, giúp hạn chế phá rừng và giảm lượng phát thải khí nhà kính. Ngoài ra, còn tận dụng được phụ phẩm biogas chuyển hóa thành các loại phân hữu cơ vừa có chất lượng cao, vừa an toàn (không có mầm bệnh), lại không có mùi hôi thối, giàu dinh dưỡng, cây trồng dễ hấp thu, dễ chuyển thành chất mùn làm cải thiện chất đất, hạn chế sử dụng phân bón hoá học; giảm chi phí trong sản xuất, giúp nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng; tăng hiệu quả kinh tế và thu nhập cho hộ gia đình.
Phụ phẩm biogas dùng để bón rau
 
      Được sự hỗ trợ và giúp đỡ của Cục Chăn nuôi và Tổ chức Hợp tác phát triển Hà Lan, năm 2009, Văn phòng dự án Khí sinh học tỉnh Quảng Nam đã triển khai tại 8 huyện trong tỉnh, tổ chức đào tạo chuyên môn cho 10 kỹ thuật viên, 9 thợ xây dựng hầm biogas; mở được 26 lớp tập huấn chuyển giao kỹ thuật cho các đối tượng tham gia và cộng đồng dân cư trước và sau khi xây dựng công trình về những nội dung có liên quan như tiêu chuẩn kỹ thuật, phương pháp vận hành, sử dụng, bảo dưỡng công trình để tăng tuổi thọ và biện pháp tránh hay xử lý khi có sự cố xảy ra, với gần 500 lượt người tham gia; phối hợp với các địa phương tổ chức hàng chục cuộc hội thảo, tham quan; in ấn và cấp phát trên 1.000 tờ rơi và sổ tay sử dụng hầm biogas; phối hợp với Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh Quảng Nam và Đài Truyền thanh các huyện, thành phố xây dựng và phát các chuyên mục; gửi các tin, bài trên Bản tin nông nghiệp và trang website của Sở để tuyên truyền những kỹ thuật xây dựng cũng như lợi ích mà công nghệ biogas kết hợp chăn nuôi mang lại. Thông qua các kỹ thuật viên và thợ xây này, dự án đã xây dựng được 194 công trình. Đặc biệt, dự án còn hỗ trợ cho huyện Phú Ninh và thành phố Tam Kỳ xây dựng được 2 mô hình sử dụng phụ phẩm bã biogas để làm phân bón cho cây trồng và 2 mô hình sử dụng biogas để sản xuất điện thắp sáng trong gia đình và sưởi ấm cho lợn đem lại hiệu quả kinh tế cao. Dự kiến kế hoạch năm 2010, dự án sẽ tiếp tục xây dựng và đưa vào sử dụng thêm 700 công trình nữa.
 
     Qua theo dõi và đánh giá dự án cho thấy, ở Quảng Nam chủ yếu sử dụng chất thải từ các chuồng lợn mà chưa dùng phân và nước tiểu của trâu bò, gia cầm hoặc của người. Nếu sử dụng chất thải từ chuồng lợn thì rất thuận tiện cho người sử dụng là tận dụng được nguồn nước rửa chuồng để đánh tan phân lợn và cùng cho chảy thẳng vào bể biogas; còn nếu sử dụng phân trâu bò thì buộc phải xây dựng thêm một bể tròn có cánh khuấy bằng tôn để đánh tan phân trâu bò trong nước trước khi cho chảy vào bể. Chi phí xây dựng hoàn chỉnh các bể biogas thay đổi tùy thuộc vào các vùng khác nhau. Theo tính toán thì tổng chi phí đầu tư để xây dựng 1 hầm biogas có dung tích trên 3m3 mất khoảng 2,5 – 3,0 triệu đồng, trong đó tiền dụng cụ/thiết bị khoảng 1,0 - 1,5 triệu đồng, công lao động 1,5 triệu đồng (3người thợ x 5ngày = 15 công/hầm), tuổi thọ trung bình khoảng 10 ÷ 15 năm. Kỹ thuật xây dựng hầm biogas khá đơn giản, diện tích xây dựng hầm ủ không lớn, có thể xây dựng chìm dưới mặt đất. Về hiệu quả kinh tế, mỗi năm chỉ tính riêng cho việc sử dụng khí đốt biogas và điện thắp sáng, mỗi hộ gia đình nông thôn chỉ cần nuôi thường xuyên với qui mô 4 ÷ 5 con lợn là có đủ lượng nguyên liệu để cung cấp khí gas sử dụng đun nấu và thắp sáng thoải mái (theo nghiên cứu ở Việt Nam thì lượng khí mêtan sinh ra từ 1 kg nguyên liệu phân và nước tiểu lợn là 40 ÷ 60 lít, trung bình mỗi ngày lượng phân và nước tiểu thải ra từ 1 con lợn là 3,5-7kg) và có thể tiết kiệm được từ 4 ÷ 5 triệu đồng; chưa kể đến hiệu quả của những công dụng hữu ích khác, chẳng hạn như: xây thêm đường ống dẫn dịch nước thải sau lên men (gọi là nước phân - giàu dinh dưỡng, không mùi hôi và đã được tiêu diệt được phần lớn mầm bệnh) để thoát ra ngoài và được dùng để ủ với rơm rạ, rác sinh hoạt, lá cây… làm phân ủ để nuôi giun đất, hoặc chứa vào một hố để múc dần tưới cho rau đậu và hoa ở gần nhà, hoặc tưới cho lúa ở những cánh đồng xa. Công nghệ này đặc biệt phù hợp với mô hình chăn nuôi qui mô vừa và lớn theo hướng trang trại, mô hình VAC hoặc chăn nuôi ở những khu vực đông dân cư…
 
      Ngày 17/3/2010, Văn phòng Dự án đã tổ chức Hội nghị tổng kết tình hình thực hiện dự án năm 2009 và kế hoạch thực hiện năm 2010. Đến dự Hội nghị có đại diện lãnh đạo tỉnh và các Sở, Ban, ngành liên quan; lãnh đạo và đại diện một số hộ nông dân tham gia dự án của các huyện nhằm phân tích, đánh giá những mặt làm được và chưa làm được trong quá trình triển khai, vận hành và sử dụng công trình hầm biogas để làm cơ sở xây dựng hoàn thiện bản vẽ, thiết kế và qui trình kỹ thuật vận hành chung.
      Thấy được những hiệu quả của dự án đem lại, nên hầu hết ý kiến của các đại biểu tham dự Hội nghị đều cho rằng, nhu cầu sử dụng biogas hiện nay ở cả nước nói chung và Quảng Nam nói riêng là rất lớn, nên việc sử dụng và phát triển công nghệ biogas là rất cần thiết. Nhưng số lượng công trình đã được hỗ trợ xây dựng trong thời gian qua còn quá khiêm tốn so với nhu cầu thực tế hiện nay. Vì vậy, trong thời gian đến, dự án cần phải tiếp tục nghiên cứu và hỗ trợ mở rộng xây dựng các công trình cả về qui mô và chất lượng nhằm khai thác hết những công dụng hữu ích mà công nghệ biogas mang lại và thậm chí mở rộng sử dụng chất thải của các đối tượng vật nuôi khác như trâu bò, gia cầm, thuỷ cầm, dê... và nếu các hộ chăn nuôi đều có bể biogas thì chắc chắn rằng bộ mặt nông thôn sẽ thay đổi hẳn, hiệu quả kinh tế đem lại cho người dân nông thôn còn cao hơn nữa; thậm chí sẽ có điện ngay cả ở các vùng khó có thể nối với lưới điện quốc gia. Đồng thời, tỉnh cần phải tiếp tục đưa ra các cơ chế chính sách phù hợp nhằm khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho người dân nông thôn ở các địa phương khác trong tỉnh mạnh dạn đầu tư, ứng dụng công nghệ này để mở rộng qui mô sau khi kết thúc dự án. Và đây cũng chính là động lực thúc đẩy ngành chăn nuôi Quảng Nam phát triển một cách bền vững; góp phần xây dựng nông thôn mới, nâng cao hiệu quả trong sản xuất; đẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 26/NQ – TW.
 
Theo TTKNKN Quảng Nam